Đào tạo thạc sĩ Lưu trữ học ở phía Nam - bước tiến mới về đào tạo nguồn nhân lực Lưu trữ và Quản trị văn phòng trình độ cao ở nước ta

  

TS. Nghiêm Kỳ Hồng
1. Những đối tượng nào cần được đào tạo thạc sĩ Lưu trữ học?
Hiện nay, ở các tỉnh, thành phía Nam, nhất là tại Thành phố Hồ Chí Minh và một số khu kinh tế trọng điểm khác đang có một lực lượng khá đông đảo những người làm quản lý, nghiên cứu, giảng dạy về công tác văn thư, lưu trữ, quản trị văn phòng, tư liệu học cần thiết được đào tạo sau đại học về lĩnh vực lưu trữ và quản trị văn phòng nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế. Cụ thể là:
1.1. Đội ngũ những người làm công tác quản lý, nghiên cứu nghiệp vụ văn thư, lưu trữ trong các cơ quan Đảng, chính quyền cấp tỉnh, huyện (tỉnh ủy, huyện ủy, HĐND, UBND cấp tỉnh, cấp huyện, …) đang đảm nhiệm các chức vụ, chức danh như: Chi cục trưởng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Văn thư - Lưu trữ thuộc Sở Nội vụ các tỉnh; Trưởng, Phó trưởng phòng lưu trữ thuộc Văn phòng tỉnh ủy; chuyên viên văn thư, chuyên viên lưu trữ, lưu trữ viên đang công tác tại văn phòng các cơ quan Trung ương, văn phòng tỉnh ủy, UBND tỉnh và các sở ban ngành cấp tỉnh; văn phòng huyện ủy, UBND huyện và các Trung tâm lưu trữ quốc gia, lưu trữ lịch sử cấp tỉnh, lưu trữ chuyên ngành quốc phòng, công an, ngoại giao, vv…
1.2. Những người làm công tác lãnh đạo, phụ trách văn phòng, phòng hành chính trong các cơ quan Đảng, nhà nước, đoàn thể xã hội, đơn vị vũ trang, tổ chức sự nghiệp, đơn vị kinh tế, vv… (Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng, Trưởng, Phó trưởng phòng Hành chính, …).
1.3. Những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy về quản lý nhà nước, quản trị hành chính văn phòng, nghiệp vụ công tác văn thư, lưu trữ trong các Học viện Chính trị - hành chính khu vực II, III, IV, các trường chính trị cấp tỉnh, các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện, các trường đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý của các Bộ, ngành Trung ương ở khu vực phía Nam và nhiều trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp đang đào tạo về những lĩnh vực này. 
Từ năm học 1995-1996, Trường Đại học Tổng hợp và nay là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (KHXH & NV) thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM) đã bắt đầu đào tạo cử nhân Lưu trữ học - quản trị văn phòng (LTH-QTVP) Từ năm 2000 đến nay, Trường thực hiện chỉ tiêu đào tạo hàng năm khoảng 70 - 80 sinh viên hệ chính quy tập trung và 200 sinh viên hệ vừa làm vừa học (tại chức cũ). Vì vậy, sau 18 năm (1995-2013), Trường đã và đang đào tạo cho gần 4.000 cử nhân ngành LTH-QTVP. Một bộ phận khá lớn trong số sinh viên này có nguyện vọng học lên cao học. Ngoài số sinh viên đúng ngành nói trên, nhiều sinh viên tốt nghiệp các ngành hoặc chuyên ngành khác như Quản lý hành chính công, Lịch sử, Thông tin - Thư viện, Bảo tồn - bảo tàng, v.v.. cũng có nhu cầu học cao học ngành Lưu trữ học để phục vụ công tác tại nhiều cơ quan, tổ chức. 
Khi chưa mở đào tạo bậc cao học ngành Lưu trữ, nhiều cử nhân thuộc các ngành, chuyên ngành đào tạo nói trên cũng như nhiều công chức, viên chức đang công tác trong ngành văn thư, lưu trữ và trong văn phòng nhiều cơ quan, tổ chức có nhu cầu học sau đại học phải lựa chọn học cao học ở những ngành, chuyên ngành khác hoặc phải ra Hà Nội dự học. Đó là một bất cập, gây nhiều lãng phí, trở ngại và cần sớm được khắc phục.
1.4. Ngoài những đối tượng cụ thể nêu trên, còn phải tính đến nhu cầu đào cho sinh viên các nước trong khu vực Đông Nam Á cùng nhiều đối tượng khác trong xã hội. 
Nhu cầu đào tạo lớn là vậy nhưng cho đến nay ở nước ta mới có một cơ sở duy nhất đào tạo sau đại học ngành Lưu trữ là Trường Đại học KHXH & NV thuộc ĐHQG Hà Nội. Trường đã bắt đầu đào tạo cao học từ năm 1996, nhưng sau hơn 17 năm (1996-2013), chỉ mới đào tạo được hơn 80 thạc sĩ cho các tỉnh miền Bắc. Với tiến độ như vậy, phải cần khoảng thời gian rất lâu nữa mới có thể đáp ứng được nhu cầu đào tạo thạc sĩ ngành Lưu trữ học của xã hội.
Vì vậy, đào tạo ngành Lưu trữ học trình độ thạc sĩ nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển công tác lưu trữ và quản trị văn phòng nhằm phục vụ tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh, thành phía Nam và cả nước hiện nay là rất cần thiết và cấp bách.
Xuất phát từ yêu cầu trên, nên từ năm 2008, Trường Đại học KHXH & NV thuộc ĐHQG-HCM đã có chủ trương mở cao học lưu trữ. Từ năm 2009, Trường (mà trực tiếp là Bộ môn Lưu trữ học - Quản trị văn phòng) đã bắt đầu xúc tiến chuẩn bị và xây dựng Đề án đào tạo cao học lưu trữ. Bộ môn đã đầu tư nghiên cứu từ yêu cầu thực tiễn công tác văn phòng, văn thư, lưu trữ; từ kinh nghiệm nước ngoài và trong nước, nhất là của Trường Đại học KHXH & NV thuộc ĐHQG Hà Nội - nơi đã có hơn 15 năm đào tạo thạc sĩ Lưu trữ học và đã bắt đầu đào tạo tiến sĩ Lưu trữ học từ hơn 2 năm nay.
Đề án đã được soạn thảo, tu chỉnh nhiều lần theo góp ý trong các Hội thảo khoa học do Khoa Lịch sử chủ trì (ngày 12/8/2010 và 31/12/2011), qua nhiều lần thảo luận trong Hội đồng Khoa học & Đào tạo của Khoa Lịch sử và qua góp ý, phản biện của nhiều nhà khoa học, cán bộ quản lý văn thư, lưu trữ. Ngày 3/8/2013, Hội đồng thẩm định của Trường Đại học KHXH & NV họp và thông qua Đề án. Ngày 28/8/2013, Trường ĐH KHXH & NV đã trình Hồ sơ đăng ký mở ngành lên ĐHQG- HCM. Ngày 25/10/2013, Hội đồng xét duyệt của ĐHQG-HCM thông qua và ngày 16/12/2013, ĐHQG-HCM đã ban hành Quyết định số 1447/QĐ-ĐHQG-ĐH&SĐH giao nhiệm vụ cho Trường Đại học KHXH và NV đào tạo trình độ thạc sĩ ngành “Lưu trữ học” (mã ngành: 60.32.03.01). Có thể khẳng định rằng, Quyết định đó là kết quả của một quá trình chuẩn bị nghiêm túc, đầy trách nhiệm của Bộ môn LTH-QTVP và của Khoa Lịch sử cho Đề án mở ngành đào tạo thạc sĩ Lưu trữ học ở khu vực phía Nam. 
2. Chương trình, nội dung đào tạo và tuyển sinh như thế nào?                                                      
2.1. Chương trình, nội dung đào tạo                                                                                              
2.1.1. Mục tiêu đào tạo                      
Mục tiêu chung, giúp học viên nắm vững lý thuyết, có trình độ cao về thực hành, có khả năng nghiên cứu, làm việc độc lập, sáng tạo và có năng lực phát hiện, phân tích và giải quyết những vấn đề về Lưu trữ học và một số lĩnh vực liên quan về văn thư học và quản trị văn phòng.                                                                                                                      
Mục tiêu cụ thể:  
a) Về kiến thức, trang bị các nhóm kiến thức nâng cao và kỹ năng chuyên sâu, bao gồm: Kiến thức cơ sở; kiến thức chuyên sâu; kiến thức bổ trợ và tự chọn.
b) Về kỹ năng làm việc và năng lực nghiên cứu:
- Nắm vững những vấn đề cơ bản về lưu trữ học, từ đó có khả năng phát hiện các vấn đề về lý luận và thực tiễn cần được nghiên cứu và giải quyết.
- Có khả năng độc lập hoặc tổ chức một nhóm, một tập thể cùng triển khai nghiên cứu và giải quyết các vấn đề thuộc về lĩnh vực lưu trữ học và quản trị văn phòng; từ đó có thể tham mưu, tư vấn chính sách về lĩnh vực lưu trữ cho các cấp lãnh đạo và quản lý. 
- Có khả năng nghiên cứu các vấn đề thuộc lĩnh vực lưu trữ học, văn thư học và quản trị văn phòng. Cụ thể như sau:
+ Nghiên cứu cơ sở khoa học về công tác văn thư, lưu trữ và quản trị văn phòng để tham mưu cho Đảng và nhà nước đề ra những chủ trương, chính sách phù hợp với xu thế phát triển hiện nay.
+ Nghiên cứu những lý luận mới về lưu trữ học, văn thư học, công bố học và quản trị văn phòng.
+ Nghiên cứu các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác văn thư, lưu trữ và quản trị văn phòng trong các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp.
+ Có khả năng vận dụng các phương pháp khoa học để tiếp cận và giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý hành chính, công tác xây dựng và ban hành văn bản quản lý nhà nước nói chung, văn bản quy phạm pháp luật nói riêng, công tác văn thư - lưu trữ và công tác đảm bảo, cung cấp thông tin cho cán bộ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và doanh nghiệp…
+ Có khả năng nghiên cứu và giảng dạy trong các Học viện Chính trị - Hành chính, Trường Chính trị, các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, các trường trung cấp, cao đẳng và đại học có đào tạo về các lĩnh vực chuyên môn văn thư, lưu trữ và quản trị văn phòng.
2.1.2. Chương trình đào tạo
Được thiết kế với thời gian đào tạo từ 1,5 năm đến 2 năm và tổ chức theo 02 loại chương trình sau đây:
a) Chương trình giảng dạy môn học (phương thức II): áp dụng để đào tạo đối với cử nhân đúng ngành, cử nhân ngành gần và cử nhân một số ngành khác.
b) Chương trình nghiên cứu: Chỉ áp dụng để đào tạo đối với cử nhân đúng ngành; có trên 3 năm kinh nghiệm nghiên cứu; có 01 bài báo công bố trên tạp chí khoa học (theo Danh mục tạp chí, kỷ yếu hội nghị khoa học do Hội đồng Khoa học và Đào tạo của Trường quy định).
2.1.3. Nội dung đào tạo
a) Ngoài phần kiến thức chung (Triết học, 05 tín chỉ; Ngoại ngữ, 06 tín chỉ), nội dung chương trình đạo tạo được thiết kế tập trung cho phần kiến thức cơ sở và chuyên ngành với từ 25 đến 35 tín chỉ yêu cầu phải được tích luỹ đối với chương trình giảng dạy môn học (phương thức II); chương trình nghiên cứu từ 10 đến 15 tín chỉ, cụ thể gồm 3 khối kiến thức như: 1) Kiến thức cơ sở với nhóm các học phần như lịch sử Việt Nam, sử liệu học, hành chính học, cải cách hành chính trong lịch sử và hiện tại, tổ chức bộ máy nhà nước, ...; 2) Kiến thức chuyên sâu trọng tâm là nhóm học phần về lưu trữ học và mở rộng đến các nhóm học phần gần gũi, có mối liên quan mật thiết với lưu trữ học như văn bản quản lý nhà nước, công tác văn thư và quản trị hành chính văn phòng; và 3) Kiến thức bổ trợ và tự chọn gồm nhiều học phần nhằm đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp đa dạng của học viên. 
b) Điểm rất đáng chú ý là khi xây dựng Đề án, phần kiến thức chuyên ngành đã không còn bó hẹp ở Lưu trữ học mà đã chú trọng đảm bảo tính mở, liên thông cũng như tính chuyên sâu của nội dung chương trình đào tạo theo ba khối kiến thức là Lưu trữ học, Công tác văn bản, văn thư và Quản trị văn phòng. Tính chuyên sâu của từng khối kiến thức được thể hiện rõ như về Văn bản và công tác văn thư có học phần xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; về Lưu trữ học có các học phần như pháp luật lưu trữ, lưu trữ tài liệu điện tử, tài liệu nghe nhìn, công bố TLLT, kỹ thuật bảo quản TLLT theo phương pháp hiện đại, lịch sử văn bản hành chính, lịch sử lưu trữ Việt Nam... Tính mở được thể hiện khi đưa vào chương trình những học phần cần thiết như cải cách hành chính, quản trị công sở, thư viện học hiện đại, quản trị tri thức, vv… Học phần “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học chuyên ngành” là bắt buộc đối với Chương trình giảng dạy môn học (phương thức II) và Chương trình nghiên cứu với thời lượng tối thiểu là 02 tín chỉ.
c) Về luận văn thạc sĩ:                                                                                                                          
- Chương trình giảng dạy môn học (phương thức II) yêu cầu luận văn thạc sĩ có  thời lượng 12 đến 15 tín chỉ.
- Chương trình nghiên cứu yêu cầu luận văn thạc sĩ có thời lượng từ 30 đến 45 tín chỉ và 01 bài báo khoa học về kết quả luận văn thạc sĩ do học viên cao học là tác giả chính.
2.2. Tuyển sinh
2.2.1. Đối tượng tuyển sinh cao học lưu trữ gồm:
a) Đối tượng không phải bổ túc kiến thức: là những cử nhân đã tốt nghiệp đại học hệ chính quy và hệ vừa làm vừa học của 03 ngành: 1) Lưu trữ học - Quản trị văn phòng; 2) Lưu trữ học; và 3) Quản lý hành chính công.
b) Đối tượng phải bổ túc kiến thức: là cử nhân khoa học tốt nghiệp đại học của các ngành gần như: 1) Lịch sử (chung); 2) Lịch sử Việt Nam; 3) Lịch sử thế giới; 4) Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; 5) Khảo cổ học; 6) Bảo tàng học; và 7) Thư viện - Thông tin.
Đối tượng này cần bổ túc kiến thức, với các học phần như: Quản trị hành chính văn phòng (45 tiết), Công tác văn thư (45 tiết) Văn bản quản lý nhà nước và kỹ thuật soạn thảo văn bản (45 tiết) và Công tác lưu trữ (45 tiết). Tổng cộng: 180 tiết. Trường tổ chức các lớp bổ túc kiến thức, dự kiến từ ngày 10/2 đến ngày 29/4/2014.
c) Ngoài 02 đối tượng nêu trên, cử nhân tốt nghiệp các ngành khác có thể dự thi sau khi đã dự học khóa bồi dưỡng kiến thức theo Chương trình đào tạo chứng chỉ học phần đại học LTH-QTVP của do Hiệu trưởng Trường Đại học KHXH & NV phê duyệt, với 12 học phần (29 TC = 435 tiết) về các nghiệp vụ chủ yếu của công tác lưu trữ, công tác văn thư và quản trị văn phòng.
2.2.2. Thi tuyển đầu vào: 
a) Hàng năm, Trường tổ chức thi tuyển 2 đợt: tháng 5 và tháng 10.
b) Các môn thi tuyển gồm 3 môn:
1) Ngoại ngữ: 
- Chọn một trong 5 ngoại ngữ (Anh, Pháp, Nga, Đức, Trung). 
- Riêng về tiếng Anh, khóa tuyển sinh SĐH đợt 1 năm 2014, Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh công nhận các chứng chỉ ngoại ngữ sau đây được sử dụng để xét tuyển đào tạo trình độ thạc sĩ: 
+ Các chứng chỉ tiếng Anh quốc tế do các tổ chức khảo thí hoặc đào tạo có thẩm quyền hoặc được ủy quyền, theo chuẩn B1.3, bao gồm các chứng chỉ IELTS (4,5-5,0); TOEFL iBT (35-45); Cambridge ESOL; TOEIC (4 kỹ năng: nghe, đọc đạt 401-475 và nói, viết đạt 201-220).  
+ Chứng chỉ tiếng Anh nội bộ: Chứng chỉ VNU-EPT (VNU-ETP7 201-225) và chứng chỉ tiếng Anh do các tổ chức khảo thí hoặc đào tạo tiếng Anh trong nước cấp, được ĐHQG-HCM công nhận có giá trị sử dụng trong thời hạn 02 năm tính từ ngày cấp, bao gồm: 
Chứng chỉ TOEFL iTP, điểm tối thiểu 450 
Chứng chỉ TOEIC (nghe, đọc), điểm tối thiểu 500 
Chứng nhận dự thi tiếng Anh ở kỳ tuyển sinh sau đại học do ĐHQG-HCM tổ chức, điểm tối thiểu 50. 
2) Môn cơ bản: Công tác văn thư                                                                                         
3) Môn cơ sở: Lý luận và phương pháp công tác lưu trữ. 
Trường tổ chức hướng dẫn ôn thi cho học viên dự thi và thi các môn cơ bản và cơ sở, trong khoảng thời gian dự kiến từ 10/2 đến ngày 9/5/2014.                                                
3. Điều kiện để đào tạo đã được chuẩn bị như thế nào?
3.1. Có thể khẳng định rằng, nguồn lực giảng viên là yếu tố đầu tiên hết sức quan trọng. Trường có đủ đội ngũ giảng viên có năng lực, trình độ, kinh nghiệm với 13 giảng viên cơ hữu giảng dạy đúng chuyên ngành đăng ký đào tạo; 11 giảng viên thỉnh giảng đúng chuyên ngành. Trong tổng số giảng viên nêu trên có nhiều chuyên gia hàng đầu của lĩnh vực LTH và QTVP như Gs.Tskh Nguyễn Văn Thâm, Pgs.Ts Dương Văn Khảm, Pgs Nguyễn Văn Hàm, Pgs.Ts Vũ Thị Phụng, Pgs.Ts Đào Xuân Chúc, Ts Hà Quang Thanh, Ts Nguyễn Cảnh Đương, Ts Lê Văn In, Ts Phan Đình Nham, Pgs.Tskh Bùi Loan Thùy, Ts Nghiêm Kỳ Hồng, vv…
Do sử học là đối tượng phục vụ chủ yếu của công tác lưu trữ và tài liệu lưu trữ  là nguồn sử liệu gốc, phục vụ đắc lực cho nghiên cứu sử học và do Lưu trữ học là ngành khoa học có mối quan hệ gần gũi với các ngành Lịch sử, Thư viện - Thông tin, Bảo tàng học và Di sản, nên nguồn lực giảng viên tham gia đào tạo cao học Lưu trữ được bổ sung rất thuận lợi từ nguồn giảng viên có học hàm, học vị cao của Khoa Lịch sử và một số khoa khác trong trường. Số giảng viên này có thể tham gia giảng dạy khá nhiều môn trong chương trình đào tạo như lịch sử Việt Nam, sử liệu học, luật hành chính, cải cách hành chính trong lịch sử Việt Nam, phương pháp nghiên cứu khoa học chung và chuyên ngành, v.v...
Trong nhiều năm qua, Khoa Lịch sử đã có mối quan hệ phối hợp, liên kết đào tạo với Trường Đại học KHXH & NV thuộc ĐHQG Hà Nội, Học viện Hành chính Quốc gia, Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, Trung ương Hội Văn thư và Lưu trữ Việt Nam… Giảng viên từ những cơ quan này đều có khả năng tham gia giảng dạy nhiều môn thuộc ngành Lưu trữ học. 
3.2. Trường có đủ cơ sở thực nghiệm, thực tập (phòng thông tin tư liệu, phòng MVT, chỗ làm việc cho giảng và học viên …); ngoài ra còn có cơ sở thực tập và nghiên cứu thực tiễn ngoài Trường phục vụ rất tốt cho đào tạo đại học và sau đại học như bốn Trung tâm lưu trữ quốc gia (I, II, III, IV); hàng chục Lưu trữ lịch sử cấp tỉnh và Phòng Lưu trữ tỉnh ủy.
3.3. Về nguồn thông tin tư liệu (giáo trình, sách chuyên khảo, tài liệu tham khảo)
Với bề dày kinh nghiệm giảng dạy và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực LTH- QTVP, các giảng viên của Bộ môn và Khoa Lịch sử đã biên soạn hành chục giáo trình, sách chuyên khảo cùng với hàng trăm bài nghiên cứu trên các tạp chí khoa học và nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, cấp tỉnh, cấp Trường có thể sử dụng làm tài liệu giảng dạy, tài liệu tham khảo cho đào tạo chuyên ngành. Có thể kể ra một số công trình chủ yếu như: Văn phòng hiện đại và nghiệp vụ hành chính văn phòng (Lê Văn In, Nghiêm Kỳ Hồng, Nxb Tp. HCM, 1996); Xây dựng, ban hành, quản lý văn bản và công tác lưu trữ (Nghiêm Kỳ Hồng chủ biên, Nxb CTQG, 1998); Mấy vấn đề về công tác văn phòng, văn thư và lưu trữ trong thời kỳ đổi mới (Nghiêm Kỳ Hồng, Nxb CTQG, 2003); Soạn thảo văn bản và công tác văn thư - lưu trữ (Nghiêm Kỳ Hồng, Nguyễn Quốc Bảo, Nxb CTQG, 2004); Những vấn đề của khoa học lưu trữ ở các tỉnh miền Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Phan Đình Nham chủ biên, Nxb ĐHQG-HCM, 2005); Lưu trữ Việt Nam - Những chặng đường phát triển (Nguyễn Văn Thâm, Nghiêm Kỳ Hồng, Nxb CTQG, 2006); Nghiệp vụ thư ký văn phòng hiện đại (Nghiêm Kỳ Hồng, Lê Văn In, Nxb Lao động, 2009); Lịch sử lưu trữ Việt Nam (Nguyễn Văn Thâm, Vương Đình Quyền, Đào Thị Diến, Nghiêm Kỳ Hồng, Nxb ĐHQG-HCM, 2010); Soạn thảo văn bản và các mẫu tham khảo trong hoạt động quản lý và kinh doanh (Lê Văn In, Nxb CTQG, 2010); Nghiệp vụ thư ký giúp việc cho lãnh đạo các cơ quan, doanh nghiệp (Lê Văn In, Nghiêm Kỳ Hồng, Nguyễn Văn Báu, Nxb ĐHQG-HCM, 2012); Giáo trình Văn bản và kỹ thuật soạn thảo văn bản (Lê Văn In, Nghiêm Kỳ Hồng, Đỗ Văn Học, Nxb ĐHQG-HCM, 2013), vv... 
Tóm lại, Trường Đại học KHXH & NV có đầy đủ điều kiện để mở chuyên ngành đào tạo cao học lưu trữ đúng như Tờ trình của Trường lên ĐHQG-HCM phê duyệt Đề án đào tạo cao học lưu trữ ngày 28-8-2013 đã ghi rõ: “Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn….với đội ngũ cán bộ khoa học hiện có, với cơ sở vật chất, trang thiết bị và hệ thống thông tin, tư liệu khá đầy đủ và với kinh nghiệm đào tạo Đại học Lưu trữ và Quản trị văn phòng trong gần 20 năm qua đã hội đủ những điều kiện để đào tạo ngành LTH trình độ thác sĩ với mã ngành: 60.32.03.01”.
4. Lời kết 
Bộ môn Lưu trữ học - Quản trị văn phòng vừa được nâng cấp thành Bộ môn trực thuộc Trường. Đó là biểu hiện về sự trưởng thành của Bộ môn nói riêng và của hoạt động đào tạo đại học LTH & QTVP ở phía Nam nói chung. Với sự nỗ lực của Bộ môn; sự giúp đỡ, hợp tác đầy trách nhiệm và hiệu quả của Khoa Lịch sử và của nhiều đơn vị bạn, nhất là của Khoa LTH & QTVP Đại học KHXH và NV Hà Nội, Học viện Hành chính Quốc gia, Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước cùng nhiều chuyên gia hàng đầu về lĩnh vực này trong phạm vi cả nước, chúng tôi tin tưởng rằng: Trường Đại học KHXH và NV thuộc ĐHQG-HCM sẽ đào tạo thành công Thạc sĩ ngành Lưu trữ học, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nguồn nhân lực trình độ cao về Lưu trữ và Quản trị văn phòng ở nước ta./.
Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.